An cung ngưu hoàng hoàn uống khi nào?

Ngày đăng: 13/11/2019 | Sức khỏe gia đình
An Cung Ngưu Hoàng Hoàn hay còn gọi là An Cung Hoàn, Ngưu Hoàng Hoàn, Cứu Mệnh Hoàn, là một phương dược rất nổi tiếng, do danh y kiệt xuất đời Thanh - Ngô Đường viết trong cuốn (Ôn Bệnh Điều Biện).

Ngô Đường, tự Cúc Thông sinh ra trong một gia đình tú tài nghèo ở vùng Hoài An, Giang Tô. Năm 19 tuổi cha mất, ông ân hận vì không biết y thuật cứu cha, nên lập chí học y. Đến năm 26 tuổi, ông được tuyển chọn vào cung biên soạn, ghi chép phần y học trong bộ (Tứ Khố Toàn Thư). Nhân cơ hội quý giá này, ông nghiên cứu, học hỏi được rất nhiều kiến thức y thuật từ các đời Tấn, Đường, và của các danh y thời trước.

Vào năm Càn Long thứ 58 (1793), Ôn dịch lưu hành trong kinh thành, không có phương thuốc đặc trị, người chết rất nhiều. Lúc này, Ngô Cúc Thông vốn đang bộn bề công việc, nhưng dưới sự động viên của bằng hữu, ông đã học hỏi kinh nghiệm dùng Vạn thị ngưu hoàng thanh tâm hoàn của Diệp Thiên Sĩ, đồng thời nghiên cứu Cục phương chí bảo đơn, rồi biến giải thành An Cung Ngưu Hoàng Hoàn, cứu giúp được bao người qua khỏi. Từ đây, y danh của ông vang dội khắp kinh thành. Năm Gia Khánh thứ 18, dưới sự trợ giúp của người bạn tâm giao Uông Đình Trân (Lễ bộ thượng thư thời bấy giờ), ông đã biên soạn, in ấn, lưu hành cuốn (Ôn Bệnh Điều Biện). Cũng kể từ đó, phương dược An Cung Ngưu Hoàng Hoàn mới được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, về sau nó được y gia các đời tôn làm "Ôn bệnh tam bảo chi thủ".

Về ý nghĩa tên gọi của An Cung Hoàn: Theo Trung y, tâm là quân chủ chi tạng, tâm chủ huyết mạch, tâm tàng quân hoả; là một tạng tối quan trọng, không thể để tà khí trực tiếp xâm hại, mà bên ngoài có Tâm bào (màng tim) - Cung thành của tâm, chống đỡ, chịu thay. Trong thuốc, Ngưu hoàng là quân dược, công chuyên thanh nội hãm tâm bào nhiệt tà, khai khiếu an thần, giúp thần minh an ổn, nên thuốc mới có tên gọi như vậy. Ngoài ra, trong (Ôn Bệnh Điều Biện), ngay dưới Thanh cung thang (phương dược viết trước An Cung Hoàn) có giải nghĩa thế này: "Thanh cung thang, là phương dược thanh khai Đản trung ~ cung thành của quân chủ". (Ngô Cúc Thông Y Án) cũng viết: "Tà khí nội hãm tâm bào, cần gấp gấp thanh khai Đản trung". Như vậy, theo bản ý của Ngô Cúc Thông thì "An Cung" có nghĩa là gấp gấp Thanh khai Đản trung, giúp quân chủ an tại cung trung!

Về tổng cương, trong (Ôn Bệnh Điều Biện), Ngô Cúc Thông viết: "Thái âm ôn bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, không được phát hãn, nếu phát hãn mà không xuất hãn, nhiệt uất bên trong, vong tổn huyết mạch, ắt sẽ phát ban chẩn; nếu hãn xuất quá nhiều, tân dịch hư tổn, nhiệt tà độc chiếm, mông bế tâm khiếu, ắt sẽ hôn mê, nói nhảm,... Hôn mê nói nhảm, Ngưu hoàng hoàn, Tử tuyết đan, Cục phương chí bảo đan đều có thể chủ trị".

Luận về tổ phương khiển dược, ông viết: "Đây là bài thuốc phương hương hoá uế trọc mà thông lợi đều các khiếu, vị mặn tính hàn giúp bảo thận thuỷ mà an tâm thể, vị đắng tính hàn giúp thông hoả phủ mà tả tâm dụng. Ngưu hoàng đắc tinh tuý của nhật nguyệt, thông lợi quân chủ chi thần. Tê giác chủ trị bách độc, tà quỷ chướng khí. Trân châu đắc thái âm chi tinh mà thông thần minh, hợp Tê giác bổ thuỷ mà cứu hoả. Uất kim có hương thơm của cỏ, Mai phiến có hương thơm của cây, Hùng hoàng có hương thơm của đá, Xạ hương có hương thơm của tinh huyết, hợp bốn loại hương thơm đó để dùng, khiến cho tà nhiệt ôn độc vốn bế tắc sâu ở trong khu vực quyết âm nhất loạt từ trong thấm ra, mà tà bẩn tự tiêu, thần minh có thể khôi phục. Hoàng liên tả tâm chi hoả; Chi tử tả tâm, tam tiêu chi hoả; Hoàng cầm tả đởm, phế chi hoả, phối với tứ hương khiến hoả tà đều tán. Chu sa bổ tâm thể mà tả tâm dụng, hợp Kim bạc hoá đàm ẩm mà trọng trấn an thần, lại hợp Trân châu, Tê giác mà làm tiền tuyến chủ tướng vậy"!

Sau này, khi luận về An Cung Hoàn, Trường đại học trung y dược Hồ Bắc đã đề xuất một quan điểm phân tích tổ phương rất nổi tiếng như thế này: "Căn cứ vào bệnh nhân, bệnh cơ, chủ trị, thì ngoài vị Ngưu hoàng, Mật ong; toàn phương có thể chia ra làm 3 tổ hợp thuốc: 1, Thanh nhiệt giải độc: Tê giác, Hoàng cầm, Hoàng liên, Chi tử. 2, Khai khiếu hoá đàm: Xạ hương, Băng phiến, Uất kim, Hùng hoàng. 3, Trấn tâm an thần: Trân châu, Chu sa, Kim bạc. Chư dược hợp dụng, giúp thanh nhiệt giải độc, khoát đàm khai khiếu, trấn tâm an thần. Chủ trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ung bế tâm khiếu, dùng đều thích hợp".

Về pháp dùng: Trong (Ôn Bệnh Điều Biện), Ngô Cúc Thông có điểm: Nếu ôn bệnh sơ khởi dùng, Ngân hoa bạc hà thang, Ngân kiều tán, hay Thanh cung thang tống phục. Mạch hư thì Nhân sâm thang tống phục. Dương minh ôn bệnh thì hoà An cung hoàn 2 viên, trộn bột Sinh Đại hoàng uống một nửa, không đỡ uống tiếp. Đờm nhiều, khò khè trong hầu họng thì nước Trúc lịch, nước Sinh khương tống phục. Sốt cao, co giật, hôn mê sâu thì phối Tử tuyết đơn, Cục phương chí bảo đơn mà trị.

Về bào chế: Nhắc đến An Cung Hoàn thì phải nhắc đến Bắc Kinh Đồng Nhân Đường, một trong những tiệm thuốc có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất của Trung Quốc. Đồng Nhân Đường bào chế thuốc này chủ yếu dựa vào 6 chữ "Thượng đẳng, Thuần khiết, Địa đạo". Ví như dùng: Lương ngưu hoàng (Thượng đẳng Ngưu hoàng), Đương môn tử (thượng đẳng Xạ hương), Hùng tinh (Thượng đẳng Hùng hoàng), Mai phiến (Băng phiến tự nhiên). Tê giác châu Á (vì Tê giác châu Phi tính nóng), Uất kim của Quảng Tây, Hoàng cầm của Thừa Đức, Hoàng liên chân gà của Tứ Xuyên, thu hái xong phải bỏ lông rễ, cạo sạch vỏ, Chi tử phải chín đỏ, Chu sa phải loại mạt sắt, Trân châu phải chế qua đậu hũ,... Cho nên thuốc rất quý trọng, ngày nay không còn Ngưu hoàng, Xạ hương, Băng phiến dạng tự nhiên nữa, Sừng tê thì thay bằng sừng trâu nước; các đại gia chính hiệu chỉ muốn lùng mua An Cung Hoàn của những thập niên 80, 90 để uống!

(Phụ) Nói về cách dùng An Cung Hoàn bây giờ, là thuốc 3 phần độc nếu dùng không đúng cách. Như trên đã nói, An Cung Hoàn có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khoát đàm khai khiếu, trấn tâm an thần khá mạnh. Chủ yếu dùng cho người nhiệt tà nội hãm tâm bào, hôn mê bất tỉnh, sốt cao, nói nhảm, co giật, lưỡi đỏ hoặc tía giáng, rêu vàng, dày, dính, mạch hữu lực, hoạt, sác. Theo nghiên cứu, An Cung Hoàn có tác dụng hồi tỉnh nhanh, kéo dài khả năng sống của tế bào não, chống viêm, chống phù nề, giải độc, bảo vệ gan; thường dùng cho điều trị cao huyết áp, viêm não, nhồi máu não, chấn thương não, sốt cao hôn mê không rõ nguyên nhân, hôn mê gan, hôn mê do ngộ độc, trúng độc, viêm phổi,... Bà con nhà ta hay có trào lưu dùng An Cung Hoàn trị cao huyết áp, tai biến mạch máu não. Theo kinh nghiệm của mình, khi có cơn tăng huyết áp ác tính, tăng huyết áp độ 3, huyết áp >180/110mmHg, đầu đau như búa bổ, tức ngực, mặt đỏ, hoa mắt chóng mặt; hoặc có tiền triệu của tai biến là nên dùng được ngay. Đừng có đợi tai biến rồi mới dùng. Như thế rất nguy hiểm, vì sau tai biến chỉ có chụp MRI mới biết là bị nhồi máu não, hay xuất huyết não. Nếu xuất huyết não mà dùng An Cung Hoàn thì có khả năng sẽ gây xuất huyết rộng hơn, càng dễ để lại di chứng hoặc không thể cứu vãn được. Ngoài ra cũng có trường hợp sau tai biến, bệnh nhân đã bất tỉnh nhân sự, người nhà vẫn cố nhồi uống An Cung Hoàn, khiến cấp cứu do sặc phổi rất nguy hiểm. Sau tai biến, thời gian vàng cấp cứu là 3 tiếng đầu, do cứ qua 1 phút là khoảng 2 triệu tế bào não chết do thiếu máu và oxy nuôi dưỡng, cần cấp cứu cho đi viện kịp thời, sau ổn định, nếu có chỉ định thì cho dùng An Cung Hoàn ngay trong 24h đầu tiên là tốt nhất.

Chú ý: An Cung Hoàn dùng trị nhiệt bế tâm khiếu, không dùng cho trường hợp hàn bế tâm khiếu (hôn mê nói nhảm, mặt xanh tái, ra mồ hôi lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm); và thoát chứng (mặt trắng bệch, mắt nhắm miệng mở, hơi thở yếu, ra mồ hôi, tay chân lạnh, tay duỗi, di niệu, mạch nhỏ). Thuốc có tính khai khiếu, thông kinh mạch khá mạnh, phụ nữ có thai không dùng; Hùng hoàng, Chu sa có độc tính, người suy chức năng gan thận không dùng; Người già, trẻ nhỏ, phụ nữ cho con bú thận trọng. Trong thời gian dùng thuốc, kiêng đồ cay nóng, trợ hoả, sinh hoả!

Dương Gia Trang bút ký!

:
Tin liên quan
Tứ vật thang với sức khỏe và sinh lý nữ
Tứ vật thang gồm 4 vị: Xuyên khung 8g, Đương quy 12g, Thục địa 12g, Thược dược 8g. Tứ vật thang là phương thuốc bổ huyết kèm thêm hoạt huyết, người xưa nói nó là...
Ngày đăng: 13/12/2019
Cây mía dò, thảo dược quý đa công dụng
Cây mía giò (còn gọi là Cát lồi, Sẹ vòng, Bế sáo khương, Đọt đắng) có vị chua cay, hơi đắng, tính mát, có độc nhẹ, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng...
Ngày đăng: 12/12/2019
Cát sâm thuốc quý từ núi rừng Tây Bắc
Cát sâm còn gọi là sâm nam, sâm sắn, sâm chuột, ngưu đại lực (sâm trâu), sơn liên ngẫu, đại lực thự. Cát sâm có vị đắng, ngọt, tính bình, vào kinh Phế và...
Ngày đăng: 04/12/2019
Các bài thuốc chữa bệnh từ cây Muồng trâu
Các bộ phận của cây Muồng trâu đều có mùi hắc, vị hơi đắng và tính mát. Riêng lá có vị cay, tính ấm. Công dụng: nhuận gan, tiêu độc, tiêu viêm, tiêu thực, nhuận...
Ngày đăng: 26/11/2019
Chữa bệnh phong thấp với rễ bưởi bung
Cây bưởi bung (còn gọi là cây Cơm rượu) là loài cây mọc dại rất dễ bắt gặp ở nhiều miền quê trên cả nước. Thời thơ ấu, ai chẳng đôi lần hái trái bưởi...
Ngày đăng: 20/11/2019
Đăng nhập
Quên mật khẩu
Đăng ký
 Back on top