Các bài thuốc chữa bệnh từ cây Muồng trâu

Ngày đăng: 26/11/2019 | Sức khỏe gia đình
Các bộ phận của cây Muồng trâu đều có mùi hắc, vị hơi đắng và tính mát. Riêng lá có vị cay, tính ấm. Công dụng: nhuận gan, tiêu độc, tiêu viêm, tiêu thực, nhuận tràng, sát trùng, chỉ dương (ngừng ngứa). Trị táo bón, nhiều đờm, phù thũng, đau gan, da vàng. Dùng ngoài chữa hắc lào, viêm da thần kinh, thấp chẩn.

Trị hắc lào (lác) ở 2 bên bẹn, lưng quần, ngứa ngáy khó chịu, nhiều lúc chảy nước vàng lở loét:
Lá muồng trâu 20g, Rễ muồng trâu 20g giã nhuyễn với 1 ít muối hạt rồi vắt lấy nước bôi lên chỗ hắc lào đã cạo tróc vẩy, ngày 3-4 lần.

Trị táo bón:
Lá muồng trâu 20g sắc uống ấm sau bữa ăn 30 phút hoặc luộc đọt non để ăn. Liệu trình áp dụng từ 3- 5 ngày liên tiếp.
Hoặc:
Muồng  trâu 20g, Chút chít 20g, Đại hoàng 4-6 g sắc uống.
Hoặc:
Lá Muồng trâu non 100g, ngọn Cam thảo dây non 40g dùng tươi rửa sạch đâm nhuyễn thêm nước sôi để nguội cho uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 bát. (Nếu táo bọn nặng thay 100g lá Muồng trâu bằng 20g rễ muồng trâu).
Hoặc:
Độc vị nhuận tràng hoàn: Lá Muồng trâu phơi khô, sấy giòn, tán bột mịn, luyện Mật ong làm hoàn mềm bằng cỡ đầu ngón tay cái (6g/hoàn). Để nhuận trường, người lớn uống 1 hoàn, ngày 1-2 lần, trẻ em tùy tuổi dùng bằng 1/3 đến ½ liều người lớn. Để tẩy xổ dùng liều gấp đôi.
Hoặc:
Muồng trâu 4g, Bạch mao căn 8g, Hạn liên thảo 8g, Tích tuyết thảo 8g, Cỏ mần trầu 8g, Cam thảo đất 8g, Ké đầu ngựa 8g, Gừng tươi 4g, Củ sả 4 g, Trần bì 4g, sắc uống. Tác dụng nhuận gan, mát huyết, giải độc, điều hòa cơ thể, kích thích tiêu hóa.

Trị táo bón, phù thũng, đau gan vàng da:
Dùng lá, cành, rễ muồng trâu sao vàng sắc uống thường xuyên như nước chè.

Trị bệnh lang ben, hắc lào:
Muồng trâu 1 nắm lá, nấu nước tắm rửa vào những vùng bị mắc bệnh lang ben 1 lần/ngày.
Hoặc:
Lá muồng tươi, đem giã nát rồi cho thêm chút rượu gốc và muối vào để lấy nước cốt thoa lên vùng da bị lác (hắc lào), cào nhẹ lớp da chết ở chỗ bị lác cho bong tróc trước khi thoa.

Trị hắc lào:
Lá muồng trâu tươi giã nát, lấy nước bôi thêm ít muối hoặc dịch quả chanh tác dụng càng mạnh hơn.
Lá muồng trâu đem nghiền nát. Đổ vào đó nước đun sôi có pha natri fluorid, để yên trong 24h, rồi lọc qua vải. Thêm vào bã ít cồn 900, ngâm 24h rồi ép lấy cồn. Hợp cả cồn và nước lại, có tới độ cao mềm. Cao này có thể bảo quản không bị mốc do có natri fluorid. Có thể chế thuốc 1/5 từ cao.

Trị bệnh ngoài da:
Vò nát lá muồng trâu tươi rồi thoa lên vùng da nhiễm trùng, nếu da bị nấm thì xay lá tươi rồi cho thêm một ít dầu dừa vào và thoa.

Trị nấm ngoài da, dị ứng da:
Lá muồng trâu sắc đậm đặc dùng để tắm, hoặc đắp thẳng lên da hay biến chế thuốc dán từ lá đắp trực tiếp lên da. Ngoài ra có thể sử dụng 5-20g cuống lá và quả khô (không hạt), ngâm trong 1 lít nước đun sôi, uống 1 tách vào buổi tối.

Làm giảm hen suyễn:
Nấu lá muồng trâu trong 10-15 phút và uống như trà (3 lần mỗi ngày).

Trị các bệnh về bao tử:
Xay hạt, hoa và lá của cây muồng trâu rồi ngâm với nước nóng trong 15 phút, uống 3 lần mỗi ngày. Nếu bị đầy hơi thì dùng rễ, sắc lấy nước uống, cho thêm một ít đường thốt nốt (đường thô).

Đối với những vết thương do côn trùng cắn:
Xay nát lá tươi rồi lấy phần bã xoa nhẹ lên vùng da bị tổn thương (có thể cho thêm chút nước cốt chanh vào).

Trị bệnh ban đỏ:
Dùng thân cây muồng trâu, xắt lát cho mỏng rồi phơi khô, sau đó lấy khoảng một nắm, sao thủy thổ rồi sắc lấy nước uống, ngày uống 2-3lần tùy theo tình trạng bệnh.

Trị thấp khớp:
Muồng trâu 40g, Vòi voi 30 g, Tang ký sinh, Quế chi, Dứa dại, Ngưu tất nam đều 20g. Sắc uống trong 7-10 ngày.

Trị viêm thần kinh tọa:
Muồng trâu 24g, Cây lức 20g, Thần thông, Rễ nhàu, Kiến cò đều 12g, Đỗ trọng 8g, sắc uống trong 7-10 ngày.

Ngăn ngừa hiện tượng mẩn ngứa ngoài da:
Muồng trâu 1 nắm lá, giã nhuyễn đắp lên vùng da mẩn ngứa.

Trị viêm họng:
Dung dịch nước ép lá nghiền nát, lọc và pha loãng, dùng để súc miệng.
Hoặc:
Lá cây muồng trâu, Ké đầu ngựa, Mùi tàu, Đọt tre đều 8g, Hương bài 10g, Mức hoa trắng 6g, Trần bì 4g, Đăng tâm 2g, sắc uống.

Trị các bệnh liên quan đến gan (phù thũng, nóng gan, đau gan, vàng da):
Muồng trâu 100g (toàn cây, sao vàng), sắc uống.

Trị các bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa, kiết lỵ:
Lá cây muồng trâu, gừng tươi, củ sả, Trần bì đều 4g, Hạn liên thảo, Tích tuyết thảo, mần trầu, ké đầu ngựa, cam thảo đất, Bạch mao căn đều 8g, sắc uống.

Trị vảy nến
Dùng lá và ngọn cây muồng trâu tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt, dùng bông thấm nước cốt rồi thoa lên vùng da bị bệnh, để khô trong 1 giờ rồi rửa lại với nước và lau khô, thực hiện 2-3 lần trong ngày.

Trị mày đay, mẩn ngứa:
Muồng trâu 10g lá, Ké đầu ngựa 12g, Hà thủ ô 15g, Tích tuyết thảo 15g, Cam thảo đất 12g, Cam thảo dây 12g, Rau ngót 10g, Rau sam 12g, Đậu săng 8g, Nhân trần 10g, Rau đắng đất 12g, Mã đề thảo 10g, Khổ sâm 10g, sắc uống.
Hoặc:
Lá muồng trâu 16g, Bèo cái tía tươi 100g, sắc uống.

Trị mày đay, mặt nổi mụn hoặc nám da do gan bị nhiễm độc:
Lá Muồng trâu 10g, Ké đầu ngựa 12g, Rau má 15g, Cam thảo đất 12g, Rau sam 12g, Bù ngót 10g, Hà thủ ô 15g, Cam thảo dây 12g, Đậu săng 8g, Nhân trần 10g, Khổ sâm 10g, Rau đắng đất 12g, Mã đề thảo 10g, sắc uống.

Trị quai bị:
Dùng nước cốt lá muồng trâu trộn với thuốc lào bôi vào tổn thương nhiều lần trong ngày.

Trị giun sán, sán xơ mít:
Thạch lựu căn (hoặc Thạch lựu bì) 80g, Binh lang 40g, Khiên ngưu tử 10g, Muồng trâu 20 lá, sắc uống. Trước khi uống thuốc người bệnh để bụng đói, buổi sáng dùng 1 miếng thịt nướng thơm để ngậm trong miệng 15 phút. Sau đó uống thuốc. Bệnh nhân có thể nôn mửa ngay sau khi uống. Khi uống thuốc cho bệnh nhân vào phòng kín để bệnh nhân đỡ chóng mặt. Sau 20 phút dùng 1 chậu nước nóng già (không phải nóng bỏng da), hễ muốn đi đại tiện thì ngồi vào chậu nước nóng này, sán trong ruột sẽ chui ra. Đến khi sán ra hết cho bệnh nhân nằm nghỉ và ăn cháo đậu xanh, hoặc uống nước cam thảo, nếu có sâm thì ngậm vài lát càng tốt. Ngày uống 1 lần, 1 tuần chỉ uống 2 lần. không được uống quá. Và cũng chỉ uống 2 lần mà thôi. Sau khi hết sán trong thời gian phục hồi không nên ăn những chất sống, lạnh. (Toa kinh nghiệm của LY Trọng Đức).

Xổ giun đũa:
Lá muồng trâu 20g sắc lấy uống đồng thời ăn kèm với 10-15 hạt trâm bầu (trẻ em dùng 5-10 hạt) đã nướng qua.

Tổng hợp

:
Tin liên quan
Tứ vật thang với sức khỏe và sinh lý nữ
Tứ vật thang gồm 4 vị: Xuyên khung 8g, Đương quy 12g, Thục địa 12g, Thược dược 8g. Tứ vật thang là phương thuốc bổ huyết kèm thêm hoạt huyết, người xưa nói nó là...
Ngày đăng: 13/12/2019
Cây mía dò, thảo dược quý đa công dụng
Cây mía giò (còn gọi là Cát lồi, Sẹ vòng, Bế sáo khương, Đọt đắng) có vị chua cay, hơi đắng, tính mát, có độc nhẹ, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng...
Ngày đăng: 12/12/2019
Cát sâm thuốc quý từ núi rừng Tây Bắc
Cát sâm còn gọi là sâm nam, sâm sắn, sâm chuột, ngưu đại lực (sâm trâu), sơn liên ngẫu, đại lực thự. Cát sâm có vị đắng, ngọt, tính bình, vào kinh Phế và...
Ngày đăng: 04/12/2019
Chữa bệnh phong thấp với rễ bưởi bung
Cây bưởi bung (còn gọi là cây Cơm rượu) là loài cây mọc dại rất dễ bắt gặp ở nhiều miền quê trên cả nước. Thời thơ ấu, ai chẳng đôi lần hái trái bưởi...
Ngày đăng: 20/11/2019
Đăng nhập
Quên mật khẩu
Đăng ký
 Back on top